Sau khi cờ Tướng đã định hình hoàn chỉnh, trở thành một trò chơi dân gian sôi nổi, hấp dẫn, các tầng lớp quần chúng hâm mộ đua nhau học tập, thi đấu, coi đó là một loại hình sinh hoạt văn hóa. Thậm chí nhiều người đã liệt nó vào một trong bốn loại hình nghệ thuật của tao nhân mặc khách là “cầm, kỳ, thi, họa”. Nhờ đó cờ Tướng càng bộc phát mạnh mẽ từ đầu thế kỷ 13 trở đi, và chưa đầy 4 thế kỷ sau nó đã có một nền tảng lý luận và thực tiễn vững chắc.
Tuy nhiên nếu chọn lấy mốc để định thời kỳ cờ Tướng có được một nền tảng hoàn bị mọi mặt thì phải đến cuối thế kỷ 19, khi Ba Kiết Nhân cho ra đời tác phẩm “Phản Mai hoa phổ”.
Để hiểu rõ vì sao, trước hết chúng ta nhìn lại chặng đường lịch sử 800 năm phát triển, xây dựng nền móng của bộ môn cờ phương Đông này để thấy những thành tựu rất đáng trân trọng của những thế hệ xưa kia.
Theo dòng thời gian có thể nói bài thơ “Tượng dịch” của Lưu Khắc Trang thời Nam Tống là một trong những tài liệu đầu tiên chỉ dẫn cách chơi cờ. Theo Lý Tùng Phúc, một học giả Trung Hoa viết trong “Tượng kỳ sử thoại” thì Lưu Khắc Trang tự là Tiềm Phu, sinh năm 1187 và mất năm 1269 thọ 83 tuổi. Ông là một nhà thơ nổi tiếng thuộc “trường phái giang hồ” vào cuối thời Nam Tống. Ông làm rất nhiều thi, từ và tản văn, đồng thời cũng là người cao cờ nhất thời đó. Bài “Tượng dịch” được ông làm ra để tặng cho một người bạn thân, cũng vừa là nhà thơ và là danh thủ cờ như ông. Đó là Diệp Tiềm Trọng, cháu nội của thừa tướng Diệp Hoành. Theo các nhà nghiên cứu thì bài thơ này có tựa đề là “Tượng dịch nhất thủ trình Diệp Tiềm Trọng”. Lưu Khắc Trang nói về cờ như thế nào? Xin tạm dịch ý tứ bài thơ như sau:
Mở đầu bài thơ, ông viết: “Cờ là một nghệ thuật nhỏ nhưng rất khó tĩnh tượng, cho dù là người trí cao cũng có chỗ chưa giải được. Ai đã từng chơi cờ thì mới thấy được những điều kỳ trong ván cờ. Cuộc chiến diễn ra giữa hai nước khác nhau, ngăn cách bởi một con sông lớn. Tất cả các quân liên kết gắn bó nhau và đều tuân theo quyền điều khiển của Tướng, Soái hình thành bộ binh vững chắc cùng quân binh kiên cố. Với 32 quân, nhưng mỗi nước đi, mỗi quân cờ đều đem lại bao nhiêu là sự biến hóa. Trước tiên nhằm khiêu khích địch, các quân phải bố trí có đội ngũ, có phát huy hết sức mạnh và khai thác hết mũi nhọn của các quân ta. Phải nắm giữ khâu trọng yếu, thừa cơ đổi phương biến nhắc mà tấn công. Khi tấn công có thể chơi chậm rãi theo kiểu bao vây nước Cử hoặc thần tốc kéo vào nước Thái (những cuộc chiến thời Đông Châu liệt quốc). Pháo xa chớ đánh vào chỗ trống, Tốt quèn cũng cần đi thận trọng. Thua chẳng phải do ít quân, thắng há phải chỉ liên quan đến quân số đông!”
Nếu đây là một quyển kỳ phổ nhằm dạy người ta chơi cờ thì chắc chắn ai học được, vì nó chỉ là một số nguyên tắc rất chung chung, trình bày theo cảm hứng của một nhà thơ chứ không phải của một thầy cờ. Do đó các nhà nghiên cứu không xếp bài thơ của Lưu Khắc Trang vào danh mục những quyển sách cờ cổ mà chỉ xem đây là một tư liệu văn học có liên quan đến cờ để tham khảo. Quyển cờ cổ nhất được nhiều nhà nghiên cứu ghi nhận là quyển “Sự lâm quảng ký” của Trần Nguyên Tịnh soạn. Ông này là một học giả thời Nam Tống, đồng thời với Lưu Khắc Trang hoặc sau một ít. Sách của ông biên soạn có tên đầy đủ là “Tân biên toàn đồ tăng loại quần thư loại yếu sự lâm quảng ký”. Với tên như vậy thì đây thực chất là một loại “Bách khoa toàn thư” chứ không phải là một quyển sách cờ thuần túy, vì nó bao gồm 4 tập với tất cả các phần, chia thành 42 quyển nhỏ. Quyển 5 là phần “Nghệ văn loại” có đề cập đến cờ Vây và cờ Tướng. Các nhà nghiên cứu cho rằng sách được in vào cuối thời Nam Tống tức là trước năm 1276, nhưng bản in cổ này hiện chưa ai tìm thấy. Năm 1325, sách được tái bản, tức là vào thời Nhà Nguyên - Thái Định đệ nhị niên, hiện vẫn còn được nhiều nhà nghiên cứu lưu giữ. Phần nói về cờ Tướng bao gồm các chương trình bày: Cách đi quân (Tượng kỳ tử pháp), Bàn cờ (kỳ cửu thập phân), Mười bí quyết chơi cờ (Tượng kỳ thập quyết), Mười ván cờ tàn nổi tiếng (Thập bàn cục diện), Mười ván cờ tàn hay và Bài thơ nói về cờ (Thiện danh cục diện). Sau khi tái bản, người ta đã bổ sung vào 2 ván đối cục đều thuộc loại đấu Pháo, không ghi rõ tên của những đấu thủ nào. Cuối cùng có thêm một ván cờ tàn nổi tiếng có tên là “Song long xuất hải”.
Cần biết rõ: người xưa gọi là “cờ tàn” là vì không phân biệt cờ tàn và cờ thế như ta ngày nay. Nếu gọi theo ngày nay thì tất cả các ván “cờ tàn nổi tiếng” nêu trên, thực chất đều là cờ thế. Sách ghi theo phương pháp rất khác với cách ghi hiện nay. Rất tiếc, các nhà nghiên cứu không trình bày cụ thể mọi điều vừa nêu nên những nội dung trên chỉ biết đại khái vậy thôi. Thế nhưng rất may là “Mười bí quyết chơi cờ” được ghi rõ như sau:
1 - Không được nôn nóng muốn chiến thắng nhanh (Bất đắc tham thắng).
2 - Đưa quân sang trận địa đối phương nên thong thả (Nhập giới nghi hoãn).
3 - Tấn công đối phương phải nhìn lại mình (Công bỉ cố ngã).
4 - Bỏ quân giành lấy nước tiên (Khí tử tranh tiên).
5 - Bỏ lợi nhỏ để được lợi lớn hơn (Xá tiểu tựu đại).
6 - Gặp nguy hiểm nên hi sinh quân để cứu vãn tình thế (Phùng nguy tu khí).
7 - Lúc nào cũng cần thận trọng, chớ nôn nóng muốn giải quyết nhanh (Thận vật dục tốc).
8 - Khi bị động thì cần có lực lượng đối phó ngay (Động tu tương ứng).
9 - Khi đối phương mạnh thì ta nên phòng thủ (Bỉ cường tự bảo).
10 - Khi ta yếu thì nên cố gắng thủ hòa (Ngã nhược thủ hòa).
Đó là 10 bí quyết hay cũng có thể gọi là 10 phương châm mà Trần Nguyên Tịnh đã tổng kết khi chơi cờ. Thật là thú vị khi biết được là những điểm tổng kết này đã được vạch ra trên 700 năm mà hiện nay nhiều điều vẫn còn nguyên giá trị. Tất nhiên ở đây có nhiều điều mang tính phổ biến của cả nghệ thuật quân sự đã được vận dụng trong chơi cờ, nhưng dù sao cũng phải thấy nếu: không có kinh nghiệm thực tiễn trong chơi cờ thì không thể tổng kết được như vậy.
Sau quyển “Sự lâm quảng ký” một số nhà nghiên cứu phát hiện quyển “Du hí đại toàn” của Sơn Dã cư sĩ biên soạn và bạn là đạo sĩ Nhất Tùng bổ sung, đem in ra khoảng năm 1383. Sách này gồm 8 quyển chia ra: 1 quyển nói về Xe, có 42 ván cờ; hai quyển nói về Pháo với 120 ván; một quyển nói về Mã có 75 ván, bốn quyển nói về Tốt có 200 thế cờ; cộng chung tất cả là 437 thế. Sách được phát hiện từ bản chép tay do cố danh kỳ Vương Hạo Nhiên lưu giữ. Thế nhưng một số nhà nghiên cứu khác rất nghi ngờ về sự trung thực của tài liệu này (Xem “Thế trận Thuận Pháo cổ điển và hiện đại” (tập 1) có trình bày rõ việc này).
Nếu đúng “Du hí đại toàn” xuất hiện vào cuối thế kỷ 14 như một số người nêu ra thì đây là quyển sách cờ Tướng đầu tiên đúng nghĩa “kỳ phổ” của nó và là một tài liệu tổng kết trận Thuận Pháo rất đáng trân trọng. Thế nhưng vấn đề “chân, giả” này chưa thật rõ ràng. Trong thế kỷ 15, người ta chưa tìm thấy một quyển kỳ phổ nào khác. Quyển “Mộng nhập thần cơ” in trước đời Minh Gia Tĩnh tức là trước năm 1522, có thể đã xuất hiện vào thế kỷ 15, nhưng một vài nhà nghiên cứu khác cho rằng nó xuất hiện từ giữa hoặc cuối thế kỷ 14. Đó là họ căn cứ vào “Nội các tàng thư mục lục” đời nhà Thanh để suy đoán chứ chưa có gì chắc chắn, ngay cả tên tác giả hiện cũng chưa tìm ra. Quyển này vốn gồm 12 tập, nay chỉ tìm thấy 4 tập, chủ yếu là cờ tàn và cờ thế nên rất khó thẩm định đầy đủ giá trị của nó.
Đầu thế kỷ 16, Tổ Long Thị biên soạn quyển “Bách biến Tượng kỳ phổ” và in ra năm 1522 bao gồm 70 ván cờ tàn và cờ thế, trình độ so ra cao hơn các ván trong “Mộng nhập thần cơ” một bậc. Đến năm Gia Tĩnh thứ 19, tức là năm 1540 sau công nguyên, xuất hiện một quyển viết theo dạng “toàn thư” có tên là “Bách Xuyên thư chí”. Trong quyển này có nói về quyển kỳ phổ có tên là “Kim Bằng thập bát biến” không rõ tác giả là ai. Sau đó người ta lại nghe nói có một quyển kỳ phổ khác tên là “Kim Bằng bí quyết”. Các nhà nghiên cứu cho rằng “Kim Bằng thập bát biến” với “Kim Bằng bí quyết” chỉ là hai cách gọi của một quyển kỳ phổ mà thôi. Thời xưa người ta gọi chim bằng là “thần điểu” vì nó bay rất cao và rất xa. Đặt tên sách như vậy là có ý muốn nói các ván cờ ở trong đó biến hóa kỳ diệu khôn lường. Tiếc là quyển kỳ phổ này đã thất truyền nên không rõ nội dung thế nào và người ta chỉ có thể dự đoán nó xuất hiện vào đầu thế kỷ 16, và các tác giả của “Thích tình nhã thú”, “Quất trung bí” đều có tham khảo kỹ quyển này để soạn nên tác phẩm của mình. Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng “Kim bằng bí quyết” đã tổng kết được một bước đáng kể các trận đấu Pháo, gồm Thuận Pháo và Nghịch Pháo, đồng thời đã định ra phương hướng chiến lược của trận Bình Phong Mã.
Giữa thế kỷ 16, danh kỳ Từ Chi biên soạn “Thích tình nhã thú” nhờ bạn là Trần Học Lễ hiệu đính. Năm 1570, sách được in gồm 10 quyển, có cả cờ thế, cờ tàn và đối cuộc. Từ quyển 1 đến quyển 8, theo các nhà nghiên cứu thì Từ Chi tuyển chọn các ván trong “Mộng nhập thần cơ” gồm 550 ván cờ thế và cờ tàn thực dụng. Từ quyển 9, 10 cũng theo các nhà nghiên cứu thì Từ Chi đã tuyển chọn các ván cờ bàn trong sách “Kim bằng bí quyết” chủ yếu là trận Thuận Pháo và Nghịch Pháo với nhiều nước biến quan trọng. Đặc biệt có phần phụ lục đáng chú ý, đó là một bản văn có tính lý luận chỉ dẫn những nguyên tắc đánh cờ. Bản văn có tên là “Kỳ kinh luận” mà theo một số nhà nghiên cứu thì đây là bài tựa của quyển “Kim Bằng thập bát biến” hay “Kim Bằng bí quyết”. Toàn văn “Kỳ kinh luận” xin lược dịch như sau:
“Phàm người chơi cờ cần phải để hết tâm trí vào tính toán, lúc chờ đối phương đi thì nên bình tĩnh, thản nhiên, không vui, không giận mà cũng không lo lắng chuyện gì khác. Tổng quát, một ván cờ bao giờ cũng thiên biến vạn hóa. Có thể chơi Xe tiền, Mã hậu hoặc đưa Pháo đuổi Tốt, nhanh, mạnh như sấm giật, chớp giăng. Pháo yểm trợ, Tốt ép gần Sĩ - Tượng, như sói chạy, hổ nhảy. Nếu đánh Thuận Pháo, trước hết đôi Xe cần linh hoạt; nếu chơi Nghịch Pháo thì cần sớm lên Sĩ giữa. Như chơi Pháo tai Sĩ nên gấp xuống Xe; đánh Pháo đầu thì Xe chặn lộ Tướng địch. Phá Tượng cục thì tiến Tốt đầu; Pháo giăng dọc cản địch rất hay; đôi Xe chống đối quân rất dễ; Chuyển giác Mã, Xe nên tuần hà. Chưa tìm được chỗ tốt không vội rời vị trí. Đã được thế cần tranh lấy nước tiên. Mã liên hoàn cần coi chừng bị cản; Pháo kỳ hà có thể dùng chặn Xe. Xe kỳ hà ngăn cản quân đối phương rất tốt; đôi Xe cặp sườn hỗ trợ Tốt sang sông; lên Sĩ giữa mở đường Xe ra nách Tướng; mất cặp Tượng kỳ Pháo đánh hông. Thế ta yếu chớ vội tấn công, khi thế mạnh bỏ quân công mạnh. Hi sinh quân cần chiếm nước tiên; bắt lấy quân coi chừng mất thế. Đuổi Tướng địch coi chừng sót nước. Khinh thường tấn công dễ bị phản đòn; đủ Sĩ, Tượng thường dễ cầu hòa; Sĩ, Tượng khuyết coi chừng Xe, Tốt. Nước tính kín dễ làm nên chuyện; nước đi mau khó tránh lỗi lầm. Lúc đắc tiên coi chừng nhầm lẫn, khi mất Xe bình tĩnh cầu hòa. Lực lượng mạnh hãy tìm cách đánh thắng; lực lượng ít tìm cách đánh hòa. Người học cờ nên nghiền ngẫm xét mấy lời này, biết đâu cũng có thể trở thành quốc thủ!”
Đó là toàn văn bài “Kỳ kinh luận” đăng trong “Thích tình nhã thú” của Từ Chi. Nếu gạt bỏ một số câu ý tưởng chung chung, thì đây là một bài chỉ dẫn chơi cờ rất lý thú, làm sáng tỏ thêm một số chiến lược khai cuộc và một số nguyên tắc chơi trong giai đoạn cờ tàn. Đặc biệt người soạn văn bản tỏ ra có kinh nghiệm và hiểu biết tâm lý thi đấu khá sâu sắc. Đây là những lời khuyên vẫn còn có giá trị đối với những người chơi cờ ngày nay. Do đó chúng ta không lấy làm lạ sau này Chu Tấn Trinh đã tu chỉnh bài văn này để đăng lại trong “Quất trung bí” của mình với tựa đề là “Toàn chỉ” hoặc “Quất trung bí toàn chỉ”.
Về danh kỳ Chu Tấn Trinh, đã được giới thiệu trong quyển “Thế trận Thuận Pháo cổ điển và hiện đại” do Hội Cờ TP.Hồ Chí Minh xuất bản năm 1991. Sau đây xin giới thiệu thêm một số điểm.
Nếu những quyển kỳ phổ xuất hiện trong các thế kỷ trước phần lớn là do các học giả nghiên cứu viết ra, còn Chu Tấn Trinh chính là một danh kỳ trác tuyệt thời bấy giờ, đứng ra tổng kết. Ông có tên chữ là Tiến Chi, sống vào đầu thế kỷ 17, gia cảnh thế nào không rõ, chỉ đoán ông là một nhà nho lỡ vận. Theo Đỗ Cảnh Minh - một nhà nghiên cứu hiện đại của Trung Quốc cho biết: Ông có một người anh ruột tên là Chu Dực Duy từng làm Tổng đốc tỉnh Vân Nam, đời Minh - Sùng Trinh. Tuy quyển “Quất trung bí” được viết ra trên cơ sở nghiên cứu, tổng kết và tuyển chọn nhiều thế trận từ trong “Thích tình nhã thú” nhưng sự đóng góp sáng tạo của Chu Tấn Trinh rất phong phú, đặc sắc. Đến đời sau, người ta chỉ biết có “Quất trung bí” mà hoàn toàn không biết gì đến “Thích tình nhã thú”, hoặc nếu có biết thì cũng chỉ nghĩ đó là một quyển cờ tàn, cờ thế tầm thường thôi.
“Quất trung bí” được in năm 1632 gồm 4 quyển, trong đó 2 quyển đầu dạy đánh cờ bàn, chủ yếu là trận đấu Pháo (Thuận Pháo và Nghịch Pháo) với nhiều nước biến rất thú vị. Kế đó là trận Pháo đầu phá Đơn Đề Mã, Pháo đầu phá Triền Giác Mã; Bình Phong Mã phá Pháo đầu; Cách chấp 1 nước tiên; Cách chấp 2 nước tiên; Cách chấp 1 Mã và Cách chấp 2 Mã. Hai quyển sau là những ván cờ tàn và cờ thế gồm 140 ván, phân ra từng loại: thắng hoặc hòa, được phân tích khá kỹ.
Qua nghiên cứu phần dạy cờ bàn có thể thấy Chu Tấn Trinh đã có những quan niệm về chiến lược xuất quân rất đúng đắn; tư tưởng chủ đạo của ông trong mọi kiểu khai cuộc là liên tục tấn công, có thể khai thác mọi sai lầm của đối phương để tấn công mạnh mẽ, quyết liệt nhằm chiến thắng nhanh nhất. Trong giai đoạn trung cuộc, điểm nổi bật của “Quất trung bí” là nghệ thuật chơi đòn phối hợp chiếu bí đem lại nhiều thích thú cho người xem.
Vì sao Chu Tấn Trinh đặt tên sách là “Quất trung bí”? Quất trung bí có nghĩa là bí quyết hay bí mật trong quả quít, dựa theo điển tích được ghi trong quyển “Huyền quái lục” của Thừa tướng Ngưu Tăng Nhu đời Đường. Sách có kể câu chuyện quái lạ như sau: “Có người ở đất Ba cung, không rõ tên gì, nhà có một vườn quít. Một hôm có một cây quít sinh ra hai quả rất to. Người chủ thấy lạ hái cả hai bổ ra xem, thì thấy trong mỗi quả đều có hai ông già râu dài, gầy nhom, ngồi quay mặt vào nhau đánh cờ”. Người ta nói đó là hai ông tiên cao cờ, không rõ có phải là Nam Tào và Bắc Đẩu hay không! Do điển tích này mà từ đó người ta gọi “đánh cờ là quất trung lạc”. Văn Thiên Tường là một nhà thơ đời Nam Tống có viết: “Ngã ái vô như quất lý bình” nghĩa là: Ta yêu không gì sánh bằng bàn cờ tức là Ta yêu cờ nhất đời. Câu chuyện trên trong “Huyền quái lục” là chuyện thần thoại được lưu truyền trong dân gian và được thêm thắt nhiều điều ly kỳ. Chu Tấn Trinh đặt tên sách như vậy hàm ý: Đây là những bí quyết của cờ tiên!
Như trên đã nêu, Chu Tấn Trinh lấy bài “Kỳ kinh luận” sửa chữa đôi điều rồi đưa vào sách của mình với tên mới là “Quất trung bí toàn chỉ”, đồng thời ông đã nêu tóm tắt cách chơi từng thế trận, bằng mấy câu thơ ngũ ngôn mà ông gọi là “Quất trung bí ca quyết”. Xin giới thiệu mấy bài sau:
ĐƯƠNG ĐẦU PHÁO QUYẾT
“Khởi Pháo tại trung cung,
Mã thường thủ trung Tốt,
Tượng yếu Xa tương hộ,
Nhược tương Pháo lâm địch
Tỉ chư cuộc giáo hùng.
Sĩ thượng Tướng phòng không.
Tốt nghi tả hữu công.
Mã xuất độ hà tùng.”
Tạm dịch:
Khởi đầu đưa Pháo vào giữa. So với các thế trận khác thì cách đánh này mạnh hơn hết. Mã luôn giữ lấy Tốt đầu, Sĩ lên che mặt Tướng, đừng để trống trải. Tượng cần có Xe bảo vệ, che chở. Các Tốt đánh cánh trái cánh mặt nên tiến lên tấn công. Nếu như đưa Pháo tấn công thì cần nhảy Mã qua hà cùng theo tấn công.
SĨ GIÁC PHÁO QUYẾT
“Pháo hướng Sĩ giác án,
Quá hà Xa, Pháo thượng,
Xa tiên đồ Sĩ Tượng,
Địch nhân khinh bất thủ,
Xa hành nhị lộ tiền.
Pháo hựu Mã tương liên.
Mã tương Pháo hướng tiền.
Tróc Tướng hữu hà nan!”
Tạm dịch:
Pháo hướng vào tai Sĩ bày tại đó, Xe chiếm lấy lộ hai để tiến lên trước. Khi Xe đã qua hà tấn công thì Pháo cũng tiến lên để phối hợp. Đi Pháo rồi lại di Mã để chúng liên lạc bảo vệ, hỗ trợ nhau. Trước hết Xe nhắm vào uy hiếp Sĩ, Tượng đối phương, kế đó Mã cùng Pháo tiến lên phía trước và phối hợp với Xe. Đối phương nếu khinh thường không lo phòng thủ thì việc bắt Tướng có gì là khó?
PHI PHÁO QUYẾT
“Pháo khởi biên tại thượng,
Hoành binh dương đầu diệu.
Thừa hư, Sĩ khả đắc,
Giáp bộ tu Xa lực,
Phiên Tốt thế như phi.
Xung tiền lạc giác nghi.
Hữu khích Tượng tiên đồ.
Tung hoành Mã diệc kỳ.”
Tạm dịch:
Khởi đầu Pháo theo đường biên tiến lên. Vù vù bắt Tốt thế như bay. Hoành ngang có thể vào đầu rất tuyệt diệu hoặc xông lên trước rồi về góc (lộ 4, 6) cũng nên. Nếu đối phương mất cảnh giác, Pháo vọt bắt Sĩ, hoặc đối phương để hở thì cũng mưu bắt được Tượng. Kèm theo cần có Xe hỗ trợ, đồng thời Mã tung hoành phối hợp càng hay!
TƯỢNG CUỘC QUYẾT
“Tượng cuộc thế thường an,
Xa tương hà thượng lập,
Tượng nhãn thâm phòng tắc.
Thế thành phương động Pháo
Trung cung Sĩ tất uyên.
Mã tại hậu già lan.
Trung tâm, Tốt mạc tiến.
Phá địch lưỡng bàng biên.”
Tạm dịch:
Trận Tượng đầu thường giữ được thế bình ổn. Trung cung lên Sĩ cho liên hoàn, Xe sớm lên tuần hà canh giữ “mắt Tượng” chặt chẽ, không để đối phương chặn tắc, còn Tốt đầu chớ có tiến lên. Sau khi đã hình thành thế trận, bấy giờ mới đi Pháo, đánh phá hai cánh của đối phương.
PHÁ TƯỢNG CUỘC QUYẾT
“Nhất Pháo tại trung cung,
Nhất Xa hà thượng lập,
Dẫn Xa tắc Tượng nhãn,
Nhất Mã hoán nhị Tượng
Uyên ương Mã khứ công.
Trung Tốt hướng tiền xung,
Pháo tại hậu tương tùng.
Kỳ thế tất anh hùng.”
Tạm dịch:
Một Pháo đặt tại lộ giữa, cặp Mã liên hoàn nhảy lên tấn công. Một Xe lên hà đứng tại đó, rồi đẩy Tốt đầu lên xung phong. Đem Xe chặn lấy “mắt Tượng” đối phương, tiếp đưa Pháo đứng sau Xe. Rồi một Mã đổi lấy cặp Tượng địch. Chơi được như vậy thì thế mạnh vô cùng.
Đó là 5 bài ca quyết của Chu Tấn Trinh nêu phương hướng kế hoạch tổng quát của các thế trận để người học ngâm nga cho dễ nhớ. Đối với phương pháp sư phạm ngày nay, cách chỉ dạy như trên chắc không còn phù hợp và nhiều điều cần phải xem lại. Thế nhưng thời xưa, cách đây gần 400 năm mà Chu Tấn Trinh đã khái quát chiến lược xuất quân được như thế rõ là ông am hiểu khá tường tận các thế trận trên. Đó là điều rất đáng khâm phục và trân trọng.
Cũng trong thế kỷ 17 có một đạo sĩ cao cờ giấu tên soạn ra quyển “Tự xuất động lai vô địch thủ” ký bút hiệu là Thuần Dương đạo nhân. Sách in ra năm nào không rõ nhưng căn cứ vào “Mạch vọng quán thư mục” của Triệu Kỳ Mỹ - một nhà nghiên cứu đời Minh tàng trữ nhiều sách, người ta đoán quyển này ra đời khoảng cuối thế kỷ 17. Đặc biệt, căn cứ vào nội dung thấy sách ghi những trận đấu Pháo tương tự như “Quất trung bí” và “Mai hoa phổ” nên người ta càng khẳng định thời gian nó xuất hiện không thể sớm hơn. Đặc điểm của sách là các đòn đánh phối hợp chiếu bí cũng rất sắc bén, ngoạn mục và cách điều quân cũng rất linh hoạt.
Đáng chú ý nhất là sách có phần “Phàm lệ” nêu rõ 4 nguyên tắc chơi cờ. Bốn nguyên tắc đó là:
1 - Cần phải có 3 nhanh: Nhanh mắt, nhanh tâm và nhanh tay.
2 - Cần phải có 3 xét: Xét thế trận của đối phương, xét đối phương ưu thế hay thất thế, xét đối phương được tiên hay mất tiên.
3 - Cần phải có 3 tốt: Sức khỏe tốt, thế cờ tốt và tư tưởng tốt.
4 - Cần phải có 3 thắng: Khí thắng, trí thắng và thế thắng.
Những nguyên tắc này được tổng kết từ kinh nghiệm thực tiễn để giúp người chơi cờ tập luyện những tác phong cần thiết trong thi đấu. Tuy nhiên nhiều điểm không phải là “nguyên tắc” mà là “điều kiện” thì đúng hơn. Chữ “khí thắng” có thể hiểu là tinh thần quyết chiến, quyết thắng; còn “nhanh tâm” có thể hiểu là trực giác nhạy bén. Thế nhưng “nhanh tay” khiến người ta nghĩ ngày trước chơi cờ chưa quy định chặt chẽ về nước cờ đi rồi không được hoàn lại (hạ thủ bất hoàn). Do đó phải “nhanh tay” kẻo đối phương hoàn lại!
Mặc dù những “nguyên tắc” trên nêu rất chung chung, chưa phân tích lý giải cụ thể nhưng đó cũng là một cố gắng đóng góp kinh nghiệm rất đáng hoan nghênh của đạo sĩ Thuần Dương.
Sau Chu Tấn Trinh là danh kỳ Vương Tái Việt - một người có công đóng góp to lớn cho sự phát triển cờ Tướng cũng xuất hiện vào cuối thế kỷ 17. Các nhà nghiên cứu vẫn chưa rõ về thân thế sự nghiệp của danh kỳ này, nhưng căn cứ vào bài tựa trong tác phẩm trứ danh của ông là quyển “Mai hoa phổ”, người ta biết như sau:
Án Kiểng tiên sinh họ Vương tên Tái Việt, tự là Chính Dĩ, người thời Khang Hy. Tính cương trực, nhà nghèo. Dù có trình độ học vấn cao nhưng không cầu danh vọng nên người đời ít biết. Cuộc đời gian truân, gặp nhiều bất bình uất ức, vì vậy ông chơi cờ để giải khuây năm tháng. Sau khi lĩnh hội sâu sắc nhiều vấn đề chiến lược, chiến thuật, ông đã viết thành sách đề tên “Mai hoa phổ” được làng cờ ca ngợi nức nở. Nội dung chủ yếu của sách đề cập 6 loại đối cuộc, chỉ rõ phương pháp tấn công và phòng thủ. Như Pháo đầu phá Quá cung Pháo; Pháo đầu phá Chuyển giác Mã; Thuận Pháo trực Xa công hoành Xa; Thuận Pháo hoành Xa công trực Xa; Đương đầu Pháo đối Nghịch thủ Pháo. Đặc biệt là trận Bình Phong Mã phá Đương đầu Pháo, Vương đã phát huy cao độ thế trận Bình Phong Mã.
Sách được xuất bản sau “Quất trung bí” khoảng 60 năm, tức là khoảng thập niên cuối cùng của thế kỷ 17. Cần nhớ một sự kiện lịch sử có tính chất bước ngoặt lớn của Trung Quốc là nhà Thanh diệt nhà Minh thành lập một triều đại mới năm 1644. Do đó các nhà nghiên cứu cho là “Quất trung bí” là quyển cờ tiêu biểu thời đại Minh mà nổi bật là các thế trận đấu Pháo, còn “Mai hoa phổ” là quyển cờ tiêu biểu thời đại Thanh mà độc đáo nhất là thế trận Bình Phong Mã.
Quyển “Mai hoa phổ” đầu tiên ra đời ghi chép theo kiểu riêng. Đó là vị trí các điểm trên bàn cờ được coi là những tọa độ cố định, mỗi điểm đều có tên riêng bằng chữ để gọi. Chẳng hạn, trên lộ 1 và 2 của bên tiên, các điểm từ hà trở xuống chỗ Xe và Mã có các tên gọi là: Chỉnh, Lao, Đội, Bài, Nhạn - Hành, Vận, Duy, Ác, Toán. Ngược lại phía bên hậu cũng từ hà trở xuống, các điểm có tên: Háo, Thắng, Tự, Kỳ, Mang - Khán, Thế, Tinh, Tranh, Tiên.
Như vậy bàn cờ có 90 vị trí thì có 90 tên gọi khác nhau. Người đời sau thấy khó nhớ, đã sửa lại cho thống nhất với cách ghi chép hiện nay.
Về nội dung như trên đã nêu, nhiều thế trận Vương sao chép từ những quyển ra đời trước đó, không thấy có sáng tạo gì mới, như các trận đấu Pháo, chủ yếu ghi lại của “Quất trung bí”. Nhưng phần Bình Phong Mã phá Đương đầu Pháo là phần tinh hoa nhất thì rõ ràng Vương đã có nhiều đóng góp rất đặc sắc. Chính tư tưởng chiến lược của Vương vạch ra cho trận Bình Phong Mã đã định hướng cho kiểu chơi này suốt mấy thế kỷ qua, thậm chí cho đến tận ngày nay nó vẫn còn ảnh hưởng rất lớn đối với nhiều tay cờ.
Đến đầu thế kỷ 18 có danh thủ Trương Huệ Xuân viết quyển “Thao lược huyền cơ” và in ra năm 1707. Các nhà nghiên cứu cho rằng sách này có 6 quyển, phần lớn viết về cờ tàn và cờ thế, còn một phần là cờ bàn. Điều đáng quý là sách sưu tập nhiều ván cờ thế giang hồ lưu truyền trong dân gian đạt trình độ rất cao thâm. Tuy nhiên đại bộ phận sách sao chép từ “Thích tình nhã thú”. Sau Trương Huệ Xuân, nổi lên một tay cờ xuất chúng là Chu Đình Mai. Ông này vốn là người Giang Tô, huyện Vũ Tiến, chuyên nghề mua bán gỗ nhưng có trình độ văn hóa khá nên cũng rành thi, thư. Chơi cờ từ thuở nhỏ đến năm 20 tuổi thì cờ cao nổi tiếng khắp vùng. Nhờ tính toán mẫn tiệp, biến hóa khôn lường, đi khắp các vùng trong cả nước, không nơi nào có địch thủ, được người đương thời tôn vinh là “Thiên hạ quốc thủ”. Học trò theo học có trên 200 người. Cuối đời đến ở Dương Hồ (nay là Trường Châu thuộc tỉnh Giang Tô) sáng lập ra một lò cờ mới lấy tên là “Bì Lăng phái” và viết một kỳ phổ để tên “Hội trân các” được nhiều người đánh giá cao. Năm 1962 tạp chí “Tượng kỳ” ở Quảng Châu có đăng lại tài liệu này. Đồng thời với Chu Đình Mai có một danh kỳ khác tên là Ngô Thiệu Long. Ông này người Tô Châu, nổi tiếng đời Vua Càn Long (1736 - 1789) chơi cờ thường chấp đối phương từ 1 đến 2 nước tiên. Chẳng rõ lúc sinh thời ông có gặp và giao đấu với Chu Đình Mai hay không, việc này chẳng thấy tài liệu nào nói đến. Ông có viết một quyển cờ lấy tên là “Ngô Thiệu Long Tượng kỳ phổ”, không để rõ năm tháng in ra. Sách gồm 26 ván đối cục, nay chỉ còn 16 ván bao gồm (chấp 1 tiên có 14 ván, chấp 2 tiên có 2 ván). Các nhà nghiên cứu cho đó là các ván đấu của Ngô Thiệu Long, phản ánh được trình độ khá cao của các danh thủ thế kỷ 18. Tài liệu này làng cờ sao chép tay để học tập, sau danh thủ Tạ Hiệp Tốn đã cho in vào bộ “Tượng kỳ phổ đại toàn” của mình năm 1927.
Có một danh kỳ nữa không rõ xuất hiện vào thời gian nào. Đó là Đồng Thánh Công với quyển “Mai hoa tuyển”. Các nhà nghiên cứu tranh luận về niên đại xuất hiện của danh kỳ này, nhưng nhiều người tạm xếp ông vào giữa thế kỷ 18. Vì sao vậy? Đó là do danh thủ Tiết Bính sau khi biên soạn quyển “Tâm vũ tàn biên” là một quyển cờ thế, đem “Mai hoa tuyển” hiệu đính, bổ sung rồi in chung vào sách của mình vào năm 1800. Đây là một công trình cần có sự đánh giá đúng đắn, vì nó là một đóng góp không nhỏ của Đồng Thánh Công cũng như của Tiết Bính. Chỉ riêng “Mai hoa tuyển” có đến 50 ván đối cuộc cùng hơn 200 thế biến, mà đặc sắc nhất là các trận Pháo đầu giáp Mã, Đơn Đề Mã, Tả Điệp Pháo, Bình Phong Mã Khí Mã hãm Xa có nhiều sáng tạo rất độc đáo.
Còn danh kỳ Tiết Bính là người ở Tùng Giang (nay thuộc Thượng Hải) vốn là học trò của danh thủ Hà Khắc Xương. Ông lấy hiệu là Quốc Ấn cư sĩ, cùng làm bạn với danh kỳ Ngô Thiệu Long. Do đó khi viết quyển cờ thế “Tâm vũ tàn biên”, ông đã nhờ Ngô Thiệu Long hiệu đính. Quyển “Tâm vũ tàn biên” của ông rất đặc sắc nhờ sưu tập trên 148 ván cờ thế giang hồ ở trình độ cao, góp phần to lớn cho loại cờ thế phát triển. Bởi vì ngay năm 1801, một người giấu tên, lấy biệt hiệu là Tam Lạc cư sĩ viết quyển “Bách cuộc Tượng kỳ phổ” có 107 ván cờ thế, đa số cũng là cờ thế giang hồ. Trong quyển này đã thấy xuất hiện các thế cờ đặc sắc như: Thất tinh tụ hội; Dã Mã tháo điền; Khưu dẫn hàng long; Thiên lý độc hành. Cả 4 thế cờ này được làng cờ ca ngợi và tôn vinh là “Giang hồ tứ đại danh cuộc”. Sau đó năm 1808 có kỳ thủ Trần Văn Càn soạn quyển “Huyên thâm hải khoát” sưu tập trên 370 ván cờ tàn và cờ thế, kể cả cờ thế giang hồ để chỉnh lý. Trong phần chỉnh lý thấy có cả các ván “Thất tinh” và “Khóa hải chỉnh đông”. Nhưng đặc sắc nhất phải kể quyển “Trúc hương trai Tượng hí phổ” của Trương Kiều Đống in năm 1804, sau đó bổ sung, tu chính và tái bản năm 1817. Sách gồm 3 tập với 418 ván cờ thế, bao gồm các ván trích từ những quyển xuất bản trước đó, đồng thời sưu tập thêm nhiều ván cờ thế giang hồ trong dân gian, được nghiên cứu, phân tích rất công phu. Đa số các ván đều hòa mà đặc sắc, lý thú nhất là các ván in trong tập 3. Lần tái bản năm 1817 là do các danh thủ tu chính tái bản, chứ lúc đó Trương Kiều Đống đã quá cố. (Những năm gần đây các danh thủ Trung Quốc soát xét kỹ đã tu chính một lần nữa: nhiều ván cờ xưa kia tưởng hòa, nay xác định là cờ tử!)
Theo các nhà nghiên cứu thì Trương Kiều Đống sinh vào khoảng thập niên 50 của thế kỷ 18 và mất năm 1812. Ông hiệu là Đống Châu tản nhân, do nơi ở có tên là Trúc hương trai nên ông lấy biệt hiệu là Trúc Hương trai chủ nhân. Trương ba đời hâm mộ cờ, nhà có hơn trăm quyển kỳ phổ các loại. Nhờ quan hệ với nhiều bạn bè cao cờ nên ông thường đem các ván cờ thế giang hồ ra nghiên cứu, tranh luận các phương án, các thế biến. Do vậy mà sau này ông biên tập và viết “Trúc hương trai Tượng hí phổ” ít sai sót. Đây là một trong những công trình biên soạn được làng cờ đánh giá cao, vì nó đã góp phần không nhỏ cho sự tiến bộ của cờ thế nói riêng và cờ Tướng nói chung.
Như vậy là trong suốt thế kỷ 19, các danh kỳ đua nhau nghiên cứu và sáng tạo cờ thế, còn cờ bàn thì có phần lu mờ hơn. Nhưng cuối thế kỷ 19 có 2 quyển kỳ phổ rất độc đáo mà trước nay người ta chưa biết đến, phải đợi sau này in ra thì làng cờ mới thấy rõ giá trị của nó.
Đó là quyển “Ngô thị Mai hoa phổ” của Ngô Mai Thánh và quyển “Phản Mai hoa” của Ba Kiết Nhân.
Ngô Mai Thánh là ai, hiện tại chưa có nhà nghiên cứu nào biết rõ, chỉ dự đoán ông sống vào thời Đồng Trị nhà Thanh (1862 - 1874). Nguyên quyển sách của ông có tên là “Tượng kỳ nhượng tiên bí phổ” nhưng vì nội dung sắc sảo có thể sánh với quyển “Mai hoa phổ” của Vương Tái Việt nên làng cờ thường gọi là “Ngô thị Mai hoa phổ”. Sách gồm 5 phần: Bình Phong Mã phá Pháo đầu trực Xa; Bình Phong Mã phá Pháo đầu hoành Xa; Bình Phong Mã phá Đơn Đề Mã; Bình Phong Mã phá Pháo đầu Mã đội (tức Giáp Mã); Bình Phong Mã phá Tượng đầu, Mã quỳ. Tất cả đều chỉ dẫn Bình Phong Mã đi hậu thắng, có nhiều sáng tạo đáng khen, nhất là sách đã nêu phương hướng của kiểu chơi Bình Phong Mã hiện đại.
Còn quyển “Phản Mai hoa” nguyên có tên là “Mai hoa tâm pháp Tượng kỳ phổ” do Ba Kiết Nhân biên soạn. Sách chỉ có 7 ván đối cuộc với 25 nước biến nhưng có nhiều tư tưởng sáng tạo độc đáo nhằm chỉ dẫn bên đi hậu chơi Pháo đầu phá bên tiên chơi Bình Phong Mã. Ván thứ nhất chỉ dẫn Pháo đầu Xe tuần hà phá Bình Phong Mã của Vương Tái Việt rất xuất sắc. Ba Kiết Nhân thực sự là một danh thủ thời Thanh mạt, thuộc dân tộc Mãn ở Trấn Giang tỉnh Giang Tô. Năm hơn 10 tuổi, ông đã nổi danh cao cờ tại quê làng. Lớn lên sang các tỉnh Hoa Đông tìm các tay cờ cao để thử tài nhưng ít khi gặp được người có khả năng đối địch. Do đó người đương thời tôn xưng ông là “Ba Bất đấu” ý nói không ai đấu lại ông. Với những đóng góp đầy sáng tạo của ông khiến cho các trường phái trong làng cờ phải giật mình xem lại các thế trận mà các quyển kỳ phổ đã tổng kết trước đây.
Giữa thế kỷ 19, ở Hàn Giang nổi lên hai tay cờ cao: một người tên là Dương Kiện Đình và một người họ Thạch, không rõ tên. Dương Kiện Đình chơi Mã rất giỏi nên có biệt danh là Tứ diện hổ. Hai danh thủ này cùng soạn một quyển sách lấy tên là “Thạch Dương di cuộc”. Sách có 12 ván đối cuộc gồm: 7 ván Bình Phong Mã chống Pháo đầu; 2 ván Đơn Đề Mã chống Pháo đầu; 1 ván Thuận Pháo, tất cả đều hòa. Còn 2 ván là trận Đối Binh, đi tiên thắng. Phong cách chơi cờ chặt chẽ, vững chắc, nhưng ý tứ kín đáo, cao thâm. Sách lưu truyền do sao chép tay. Về sau, Tạ Hiệp Tốn đưa vào quyển “Tượng kỳ phổ đại toàn” của mình để phổ biến rộng rãi trong làng cờ.
Ngoài ra, đầu thế kỷ 19 còn xuất hiện nhiều danh thủ rất đặc sắc nhưng không thấy họ để lại tác phẩm gì nên chỉ xin nêu lướt qua. Như ở Phiên Ngung có Lý Vinh, ở Ôn Châu có Trần Sênh và ở Bắc Kinh có Xạ Bối tử. Sở dĩ tay cờ này có biệt hiệu Xạ Bối tử (cậu hoàng khờ) vì xuất thân từ hoàng tộc nhà Thanh, do quá mê cờ nên chẳng làm nên danh phận gì. Có tài liệu nói đến danh kỳ Lý Vạn Niên (còn gọi là Tố Vạn Niên) dự định tổ chức trận tranh tài cùng với Dương Kiện Đình nhưng không thành. Những tay cờ như Trương Mỗ, Lý Vạn Niên, Ba Kiết Nhân và Dương Kiện Đình đều là những người sống vào cuối thế kỷ 19 sang đầu thế kỷ 20, tiếng tăm lừng lẫy một thời.
Tóm lại, với hơn 800 năm xây dựng và phát triển, cờ Tướng đã có nhiều thế hệ danh thủ đứng ra tổng kết từ chiến thuật, chiến lược, từ cờ tàn, cờ thế đến cả cờ bàn, đúc kết kinh nghiệm thành lý luận khá phong phú, vừa kế thừa vừa sáng tạo, đã xây dựng một nền móng vững chắc để cờ Tướng tiếp tục phát triển lên những đỉnh cao mới.
Danh sách bài
Chưa có bài trong chương này.
